Con tằm có thể chữa liệt dương?
Trong y học cổ truyền, liệt dương được gọi là chứng dương nuy do nhiều nguyên nhân gây ra và được trị liệu bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có biện pháp ngâm thuốc.
Xin được giới thiệu một bài thuốc đơn giản mà có hiệu quả để bạn đọc tham khảo và áp dụng:
Công thức: Sà sàng tử 30g, hoắc hương 30g, lộ phòng phong (tổ ong) 15g, đinh hương 10g, nhục quế 15g.
Cách chế: Tất cả các vị thuốc đem sấy khô, tán vụn, đựng trong túi vải buộc kín miệng rồi đem sắc cùng với 3.500ml nước trong 60 phút, trước sắc vũ hỏa (lửa to), sau sắc văn hỏa (lửa nhỏ) cho đến khi còn 2.500 ml là được. Cách dùng: Đổ dịch thuốc ra chậu và xông hạ bộ cho đến khi nước nguội dần rồi tiếp tục ngâm bộ phận sinh dục (dương vật và tinh hoàn) cho đến khi nước thuốc nguội hẳn. Mỗi ngày làm 1 lần vào buổi tối trước khi đi ngủ. Mỗi thang dùng 5 ngày vào mùa đông và 3 lần vào mùa hạ. Mỗi liệu trình là 15 ngày, giữa các liệu trình nghỉ 3 ngày. Bệnh nhẹ chừng 1 liệu trình, bệnh nặng chừng 2 - 3 liệu trình là khỏi, sau khi khỏi nên duy trì ngâm thuốc cách nhật để củng cố.
Theo y học cổ truyền, thông thường, liệt dương là do mệnh môn hỏa suy. Trong bài, các vị thuốc như sà sàng tử, nhục quế, lộ phòng phong, đinh hương đều có công năng trợ mệnh môn hỏa, hưng dương khởi nuy và cũng là những vị thuốc thường có mặt trong thành phần của các phương thuốc uống trong để chữa bệnh liệt dương. Bài thuốc đạt được hiệu quả trị liệu thông qua yếu tố nhiệt và chất thuốc thẩm thấu qua da tác động trực tiếp tại chỗ làm lưu thông khí huyết và kích thích các huyệt vị có công dụng bổ dương như hội âm, trường cường, thúc cốt, khí hải, quan nguyên...
Bài thuốc này đã được các nhà y học cổ truyền Trung Quốc nghiên cứu trên lâm sàng đạt kết quả 55% khỏi, 40% đỡ nhiều và chỉ có 5% thât bại,
Theo Đông y, có 3 nhóm nguyên nhân gây liệt dương: cơ thể suy nhược (tâm tỳ hư), rối loạn thần kinh chức năng (thận hư) và viêm nhiễm hệ tiết niệu sinh dục kéo dài (thấp nhiệt tích trệ). Đơn thuốc được kê tùy theo các nguyên nhân này.
Liệt dương do suy nhược cơ thể
Thể này hay gặp ở người mắc bệnh mạn tính về tiêu hóa hoặc hệ thống tuần hoàn. Ngoài triệu chứng liệt dương, bệnh nhân còn có biểu hiện da xanh, mặt vàng, ăn kém, ngủ ít, thảng thốt, tinh thần bất an, đoản hơi, đoản khí.
Bài thuốc: Nhân sâm, long nhãn, bạch truật, phục thần mỗi thứ 12 g, hoàng kỳ, đương quy, toan táo nhân mỗi thứ 16 g, mộc hương 6 g, viễn chí 6 g, cam thảo 4 g. Mỗi ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày thì nghỉ 10 ngày, liên tiếp trong 3 tháng.
Liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng
Thể này do hoạt động tình dục quá độ, thủ dâm gây ra.
Nếu do thận âm hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương, di tinh, hoạt tinh, người gầy, da khô, đau lưng, mỏi gối, ù tai, ngủ ít. Dùng bài thuốc: thục địa 16 g, sơn thù, trạch tả, đan bì mỗi thứ 8 g, hoài sơn, phục linh, kỷ tử, nhục thung dung, ngũ vị tử, trâu cổ, long nhãn mỗi thứ 12 g. Ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày, sau đó nghỉ 10 ngày, trong 3 tháng liên tiếp.
Nếu do thận dương hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương (hoàn toàn hoặc không hoàn toàn), di tinh, hưng phấn giảm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, mệt mỏi, sợ lạnh, tay chân lạnh. Dùng bài thuốc: thục địa, thỏ ty tử, phá cố chỉ, bá tử nhân, phục linh, lộc giác giao mỗi thứ 120 g, làm viên hoàn, ngày uống 30 g.
Liệt dương do viêm nhiễm
Hay gặp trong sỏi tiết niệu, sỏi bàng quang, viêm bàng quang mạn tính. Người bệnh có triệu chứng: liệt dương, khát nước, tiểu tiện đỏ.
Bài thuốc: hoàng bá nam 20 g, ý dĩ, trâu cổ mỗi thứ 16 g, mạch môn, kỷ tử, thục địa, ích trí nhân, ô dược, ngưu tất mỗi thứ 12 g, tỳ giải 24 g, sắc uống ngày 1 thang, uống 20 thang trong 1 tháng.
Chú ý: Trong thời gian uống thuốc, cần tránh quan hệ tình dục.
Chào bạn!
Tằm ăn lá dâu có tên khoa học là Bombyx mori Linnaeus, nhiều bộ phận và sản phẩm của con tằm được dùng để làm thuốc như tằm chín, tằm vôi, nhộng tằm, kén tằm, phân tằm, ngài tằm, giấy trứng tằm… Ngài tằm là sản phẩm giúp nam giới chữa bệnh liệt dương.
Con tằm còn gọi là tàm nga, con ngài…, có vị mặn, tính ấm. Công dụng bổ ích can thận, sáp tinh tráng dương, dùng để chữa liệt dương, di mộng tinh, lãnh cảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt, mất kinh sớm, niệu huyết, bạch trọc, bỏng, thương tổn do kim khí, trẻ em cứng lưỡi khóc không ra tiếng… Một số vận dụng cụ thể như sau:
- Chữa liệt dương: tàm nga 100g phơi âm can, tán bột, trộn mật làm hoàn, mỗi viên to bằng hạt ngô, mỗi tối uống 1 viên. Hoặc tàm nga lượng vừa đủ sao vàng, tán bột, mỗi lần uống 9g với rượu.
- Chữa di tinh bạch trọc: tàm nga lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, dùng nước cơm làm hoàn to bằng hạt đỗ xanh, mỗi ngày uống 40 viên với nước muối nhạt.
- Chữa lãnh cảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt, mất kinh sớm: tàm nga 100g ngâm với 500ml rượu trong 7-10 ngày, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30ml.