Tìm hiểu về khái niệm AMD VISION dành cho laptop?
Tiêu chí mua hàng ?
Có 1 thực tế hiển hiện, là khi bước vào 1 cửa hàng buôn bán các thiết bị công nghệ, hoặc cầm 1 bảng báo giá sản phẩm, bạn sẽ không khỏi choáng ngợp trước sự phong phú về chủng loại và vô thiên lủng các loại model. Với bài viết này, chúng ta nói riêng về laptop. Thử đặt bản thân vào vị trí người bán / nhân viên tư vấn cửa hàng, bạn sẽ mô tả làm sao vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu mà cho khách hàng thấy được các tính năng của sản phẩm ? (1)
Với các sản phẩm để bàn, việc tư vấn có phần nào dễ thở hơn các model di động vì các thông số kỹ thuật phần cứng thường nằm ngay trên sản phẩm. Nếu không “nhớ bài”, bạn chỉ cần “liếc” qua 1 chút là có thứ để “trả” cho khách. Nhưng laptop, với hàng chục model mới phát hành mỗi ngày, chỉ nhớ tên chúng đã không đơn giản chưa tính đến việc nhớ chi tiết thông số phần cứng. Một câu hỏi mang tính triết lý hơn : thực sự khách hàng có cần thiết phải biết tường tận những thông tin đó không ? (2)
Hãy thử đi vào 1 tình huống cụ thể : bạn diễn giải làm sao để khách thấy được 1 chiếc CPU Core 2 Duo tốt hơn 1 model Pentium D khi mức xung của PenD cao hơn C2D 1 khoảng “vừa phải”. Hiển nhiên khi xung cao hơn “quá đáng” thì tôi không đảm bảo kết luận trên là đúng. Bạn có thể “bay lên” net, google ra 1 tá kết quả benchmark cho thấy con chip dùng kiến trúc sau tốt hơn thế hệ trước. Tôi cũng đảm bảo 1 điều : vẫn có 1 số kết quả mà con chip cũ vẫn tốt hơn. Lúc ấy sẽ rất khó xử và “bức bối” cho bạn – tư vấn viên.
Quay lại với câu hỏi (2), việc bạn diễn giải tuốt tuồn tuột mọi thứ có lợi ích gì ? Nếu khách hàng không hiểu hoặc thiếu khả năng nhận biết được ý nghĩa của các phép benchmark, có cần thiết tốn quá nhiều thời gian cho việc đó không ? Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần chỉ ra đâu là sản phẩm tốt và dấu hiệu nào để biết được điều đó.
Xem qua slide sau và bạn nghĩ gì ?
Đa số người tiêu dùng không hiểu hết ý nghĩa các thông số ghi trên sản phẩm, nhưng họ vẫn là người tiêu dùng, và nên có cách tốt hơn để họ chịu móc túi …
Người tiêu dùng : Càng đơn giản càng tốt !
Mọi người thường bảo : “Thà dư còn hơn thiếu”. Điều này đa phần hợp lý và nhìn chung ít ai phản đối nó. Nói đơn giản, có bao giờ bạn “chê” nhận nhiều lương hơn mức bạn cần tiêu xài ? Có thể 1 số người nào đó sẽ trả lời CÓ nhưng tôi nghĩ số đông còn lại sẽ bảo KHÔNG. Trong việc mua sắm cũng gần tương tự thế, hầu hết mọi người cho rằng sản phẩm nên dư thừa “chút chút” sẽ tốt hơn là “đủ xài”. Riêng với laptop hoặc các thiết bị tính toán cầm tay, điều này cần xét lại.
Con chip GF100 rất mạnh, trang bị nó cho chiếc PC để bàn để chơi game thì tuyệt. Thậm chí chỉ để chơi game 2D như Mario, PopCap … chắc cũng không mấy ai thắc mắc vì nổi hứng lên bạn có thể chuyển sang Crysis, Bad Company 2, Modern Warfare 2, Batman: Arkham Asylum … Nhưng bạn có nghĩ GF100 vẫn tốt để chơi game trên laptop hay không ? Với hầu hết các model lappy hiện nay, kích thước màn hình thường dưới mức 16″ và không khó để đạt ngưỡng 60 fps bằng cách trang bị 1 card đồ hoạ rời cho chiếc máy. Vậy có cần thiết gắn con chip đồ hoạ khủng nhất trên desktop vào 1 chiếc laptop ?
Một điều khác : thời lượng pin. Những gamer chuyên nghiệp có thể không quan ngại chuyện này lắm vì hầu như họ đều cắm nguồn AC để thoải mái trong trải nghiệm thế giới 3D ảo. Nhưng còn người không có nhu cầu tối ngày đóng vai 1 nhân vật phi thực tế và thường ở những nơi không có sẵn nguồn điện rời thì sao ? Rõ ràng họ cần nhiều (dung lượng) pin hơn là những con chip siêu khủng. Trường hợp này, không phải cứ “dư == tốt”.
Ngày nay, những người tiêu dùng thông minh mua sắm theo nhu cầu của họ, hơn là cứ “mạnh nhất, đắt nhất” sẽ “tốt nhất”. Vậy làm sao biết sản phẩm đó có phù hợp nhu cầu hay không ?
Câu trả lời là nhà sản xuất (NSX) cần 1 hệ thống “cho điểm” đơn giản mà bất kỳ tư vấn viên nào cũng có thể giải thích nhanh chóng ý nghĩa của chúng cho người tiêu dùng. Bản chất việc benchmark cũng là “cho điểm”, có điều điểm số này quá chi tiết và nhiều lúc không thiết thực lắm với khách hàng. Ai quan tâm việc con chip tính toán SuperPI nhanh hay chậm khi họ không dùng nó ? Những tiêu chí của các Ocer không hẳn luôn đi cùng với người tiêu dùng.
Easy to sell, easy to buy
AMD VISION có thể xem, là 1 biện pháp tương tự của AMD với giải pháp Intel Processor Ratings của Intel. Intel, dù sao, cũng có 1 site tương tự giúp người tiêu dùng chọn ra mẫu CPU phù hợp với nhu cầu, bằng cách trả lời vài câu hỏi. Bạn có thể tự tham khảo và tìm ra câu trả lời thoả đáng cho bản thân. Giải pháp AMD cũng như thế. Nhưng khác biệt giữa Intel Processor Ratings và AMD VISION là 1 cái chỉ nói về CPU, trong khi cái còn lại nói đến nền tảng PC. AMD, đến lúc này, đã có hẳn 1 nền tảng điện toán hoàn chỉnh hơn Intel. Intel với nỗ lực sản xuất ra GPU rời (Larrabee) không thành đã giúp cho AMD có được vị thế về nền tảng tốt hơn người khổng lồ Goliath.
Trông có vẻ như thay vì “hục hặc” với NVIDIA, Intel nên sát cánh cùng “kẻ thù của kẻ thù” sẽ đem lại 1 nền tảng hiệu quả hơn hiện tại. Còn ngay lúc này, AMD VISION có tác dụng tốt hơn vì hoàn chỉnh hơn Intel Processor Ratings.
Trước đây (và cho đến hiện nay), Intel cũng từng có giải pháp về 1 nền tảng điện toán hoàn chỉnh. Đó là Centrino. Song Centrino không thể hiện rõ “điểm số” cho từng thế hệ laptop có chiếc nhãn này gắn trên nó. Centrino chỉ thể hiện đây là sự kết hợp giữa CPU, chipset và card mạng không dây. Nó không nói lên được giữa 2 chiếc laptop cùng thế hệ Centrino thì cái nào nhắm đến đối tượng khách hàng nào. Mẫu Centrino nào cho người dùng nặng về game ? Mẫu nào cho người dùng thiên về di động ?
AMD VISION, theo 1 ngữ nghĩa nào đó, là sự kết hợp giữa Intel Processor Ratings và Intel Centrino, nhưng đóng mác của AMD. Hãy thử vào Help Me Choose a PC, trả lời những câu hỏi tương tự ở How to Choose the Right Processor, và bạn sẽ thấy. Sau khi có được “lời khuyên”, có lẽ không có gì đơn giản hơn ngoài việc đặt mua 1 chiếc laptop với chiếc nhãn tương ứng.
/PS : nhưng đừng quên “Right PC” hay “Right Processor” cũng chỉ là nói về hiệu năng của chiếc máy, bạn vẫn phải tự tìm hiểu các yếu tố khác như thẩm mỹ, chất liệu vỏ, bàn phím …
AMD VISION cho 2010
Trong những ngày qua, hẳn bạn khá “ngợp” với hàng trăm mẫu lappy mới xuất hiện đi cùng nền tảng AMD VISION. Tất cả chúng đều thuộc vào phân khúc phổ thông Danube. Lần ra mắt này của AMD có thể xem là khá thành công với 1 lượng lớn các sản phẩm như thế. Hiển nhiên, hơn 100 model không là gì so với hàng ngàn model hiện đang có trên thị trường. Nhưng bạn hãy chú ý đây mới chỉ là 1 lần ra mắt. Nếu chúng thực hiện tốt vai trò của mình thì không khó hình dung thế hệ di động tiếp theo của AMD sẽ đạt thành công tương tự.
Ngoài lề 1 chút : tên mã các nền tảng di động từ 2009 trở đi của AMD hầu hết gắn với các dòng sông, như Tigris là 1 dòng sông có tiếng ở Trung Đông, Nile là con sông dài nhất thế giới, Danube – 1 con sông dài nhất nhì châu Âu, Congo rồi Yukon. Không rõ dòng Mekong có trong danh sách sắp tới của AMD không nhỉ ? Còn với Intel, những cái tên Carmel, Sonoma, Santa Rosa, Calpella …đều gắn với các địa danh ở California.
Trong năm nay, AMD lên kế hoạch ra mắt 2 nền tảng di động : Danube và Nile. Dù rằng là “con sông dài nhất thế giới”, nhưng tôi không hy vọng “Nile” sẽ có triển vọng nhiều. Vì kiến trúc điện toán Bobcat mới được hãng này trù hoạch cho năm sau. Do đó xét về tính cạnh tranh, Nile khó lòng đấu lại Pineview của Intel. Cơ bản vì đối thủ của Nile được xây dựng ngay từ ban đầu là để cho netbook hoặc tablet, còn Nile vẫn dựa trên kiến trúc K8 cũ nên thiếu sức hấp dẫn về mức tiêu thụ điện. Nền tảng Brazos (2011) dựa trên chip Ontario có thể mới là quân bài chính của AMD với các phân khúc siêu di động. Còn trong năm nay, hãy để Danube chống lại quân của Goliath.
![]() |
![]() |
Dù là chip di động, yếu tố tiết kiệm pin rất quan trọng, nhưng hiệu năng vẫn giữ được nhiều lưu tâm của người mua. Vì lẽ đó mà AMD quyết định dùng đòn 4 nhân thật để chọi lại 4 nhân “nửa nạc nửa mỡ” của Intel. Và dẫu sao, sự thua kém về kiến trúc không cho phép 4 nhân thật của AMD đấu lại 4 nhân thật của Intel. Giá thành rẻ sẽ là đòn tiếp theo giúp chip của AMD vẫn hấp dẫn với người tiêu dùng.
Các đặc trưng của Danube
Còn nhớ Dragon ? Đó là 1 nền tảng điện toán của AMD, với Danube hay Tigris hay Puma cũng tương tự. Chúng là sự kết hợp giữa các thành phần phần cứng gồm CPU, chipset và GPU (từ khi có được ATI trông AMD “cứng cáp” hơn hẳn) thêm các tuỳ chọn phần mềm như AMD Overdrive, AMD Fusion Utility, AMD Fusion Media Explorer … Song với quan điểm của riêng tôi, các gói phần mềm không thực sự hấp dẫn vì đa số người dùng không quan tâm đến các tiện ích phần mềm kèm theo. Vậy nên chúng ta sẽ chỉ xét đến các đặc trưng về phần cứng.
CPU
So với nền tảng trước (Tigris), các CPU của Danube có nhiều model hơn và quy cách đặt tên cũng khó nhớ hơn. AMD bổ sung thêm 1 phân khúc mới gồm các model X series dành cho thị trường cao cấp và máy trạm. Nếu bạn để ý, các chip xử lý di động chính của AMD trước đây có 3 thương hiệu là Sempron, Athlon và Turion thì nay thương hiệu Sempron không còn, nhưng lại bổ sung thêm Phenom. Chi tiết này ban đầu khiến tôi hơi ngạc nhiên vì Phenom vốn chỉ dùng cho desktop.
![]() |
![]() |
Chipset
1 trong 3 thành phần chính của 1 nền tảng điện toán. Các chipset, dù sao, thường không có nhiều khác biệt và rất ít model. Với Danube, AMD chỉ đưa ra 1 lựa chọn duy nhất là cặp đôi RS880M / SB820M. Tuy “ít” nhưng với những gì AMD trang bị cho chúng, cặp đôi này hoàn toàn có thể ngắm được đến rất nhiều phân khúc. Và đây là lợi điểm chính : các NSX laptop không phải thay đổi nhiều trong thiết kế PCB, giúp cho chi phí sản xuất xuống thấp (nhiều thiết kế sẽ cần nhiều dây chuyền khác nhau). Như vậy riêng về chipset, AMD đạt được 1 thành công lớn.
![]() |
![]() |
Nhưng điều gì giúp cho bộ đôi chipset này “đa năng” như vậy ? Chính nhờ định hướng thiết kế dạng modular. Các chipset, xét cho cùng, là sự tích hợp thêm các tính năng mới. Một vài tính năng đôi khi không thật sự cần thiết hoặc đơn giản vì NSX muốn làm phong phú các dòng sản phẩm, họ sẽ tắt (disable) chúng đi. Vấn đề là con chip có tính năng đó để “tắt đi” không. AMD nói rằng “CÓ” với SB820M.
1 đặc trưng đáng chú ý trên SB820M là con chip tích hợp sẵn 1 bộ tạo xung (clock generator) cho toàn hệ thống. Các thiết kế trước đây không kèm theo bộ tạo xung này và NSX phải mua thêm 1 con chip khác từ đơn vị thứ 3 để thực hiện chức năng trên. Việc tích hợp sẵn bộ tạo xung có ý nghĩa khá lớn với các NSX vì họ tiết kiệm được chi phí mua thêm chip (BOM – Bill Of Materials cost) và ngoài ra, tiết kiệm thêm diện tích PCB. Nói cách khác, AMD đã tung ra 1 giải pháp chip logic “trọn gói” cho mọi NSX.
![]() |
![]() |
![]() |
Có 1 chi tiết tôi vẫn không hiểu rõ lắm đó là viết tắt của cụm từ gì – PCIe GPP. AMD mô tả đây là những làn PCIe chuyên biệt được dùng cho các thiết bị ngoại vi nhằm tăng khả năng trả lời của hệ thống khi có các yêu cầu từ bên ngoài. Tính năng này được AMD trang bị cho mọi chipset thế hệ thứ 8 của hãng.
Giống như các phiên bản desktop, SB820M trang bị toàn bộ các cổng SATA 6Gb/s. Nhưng tôi chưa rõ làm sao để khai thác được lượng băng thông lớn này vì chỉ 1 số model SSD mới có khả năng đó. Mẫu PR của AMD có vẻ hấp dẫn nhưng bao nhiêu NSX sẽ hiện thực hoá điều đó ?
GPU
Có được ATI là lợi thế lớn cho AMD so với Intel. Hãng này hoàn toàn tự tin về các ưu thế đồ hoạ trước người khổng lồ x86. Không nghi ngờ gì khi chúng sẽ là những con chip hỗ trợ DX 11 trên Danube (hay nói ngược lại nếu là các model cũ hơn thì 1 số người sẽ bị “shock”). Nhưng điều này chỉ đúng nếu bạn mua những chiếc lappy có card đồ hoạ rời (DGP). Những chip IGP, dù sao, có hỗ trợ DX 11 hay không thì cũng quá yếu để thực hiện điều đó.
Việc AMD dùng chung 1 cấu hình chipset cho mọi phân khúc di động cũng có điểm mạnh của riêng nó, tuy tốn kém “1 chút” silicon. Công nghệ ATI PowerXpress trở nên hữu ích khi người dùng mua 1 model laptop có trang bị DGP (tất nhiên là của AMD) : máy tính sẽ chuyển sang dùng IGP nếu nguồn điện là từ pin (DC) và dùng DGP nếu đó là nguồn bên ngoài (AC) mà hệ thống không cần khởi động lại (automatic switching). Người dùng vẫn có thể chuyển sang dùng DGP khi dùng pin nếu thích (manual switching). Đặc điểm này tương tự với Hybrid SLI hoặc Optimus bên NVIDIA. Song có vài điểm mà tính tiện dụng lệ thuộc vào chọn lựa của NSX.
AMD đưa ra 2 chọn lựa cho NSX nếu họ muốn gắn thêm DGP vào chiếc laptop : họ có thể sử dụng các mạch điện sẵn có trên RS880M (muxless) và tiết kiệm được chi phí (BOM cost) hoặc tự thiết kế các mạch điện rời (mux) để liên kết con chip với phần còn lại của hệ thống. Mỗi tuỳ chọn có những ưu / nhược riêng mà AMD trình bày dưới đây.
- Nếu đi dây chung với IGP (muxless) thì mọi điều khiển trên DGP sẽ bị ảnh hưởng bởi IGP. Độ trễ sẽ tăng lên, trên Windows XP / Linux chỉ nhận được duy nhất mỗi IGP và trường hợp OS có hỗ trợ Hybrid Graphics tốt thì con chip chính vẫn là IGP. Nhìn chung có nhiều nhược hơn là ưu (tiết kiệm chi phí)
- Trường hợp ngược lại tất nhiên các nhược điểm của muxless sẽ được mux loại bỏ vì “đường nhà ai nhà nấy đi”, DGP không phải “thuê” của IGP nữa và có thể hoạt động độc lập hoàn toàn khỏi “hàng xóm”. Tất nhiên, điểm dở là tốn chi phí “làm đường khác” (BOM cost)
Nói riêng về IGP kèm theo RS880M, trên thực tế con chip này không có tên xác định mà lệ thuộc vào xung nhịp – điệp áp do NSX ấn định. Trong cấu hình thấp nhất (không kèm DGP), các yếu tố tiêu thụ điện sẽ được cắt giảm tối đa, các HT Link sẽ bị giới hạn ở mức thấp nhất và các liên kết PCIe sẽ được “cúp” hoàn toàn. Khi cấu hình “mạnh dần”, các yếu tố trên sẽ được “bật” tuần tự. Ví dụ các liên kết PCIe từ zero sẽ lên mức 1.0 rồi 2.0, x8 rồi x16, HT1 chuyển thành HT3. Tất cả theo phương châm “tiết kiệm là quốc sách”.
![]() |
![]() |
Từ đây bạn cũng có thể đoán được 3 loạt series đồ hoạ rời trên đây sẽ “cặp kè” với “model” IGP nào, HD 4225 hay HD 4250 hay HD 4270.
Over … clock ???
Trong số mọi đặc trưng của Danube thì OC có lẽ là thứ “bất thường” nhất trong vô số điều “bình thường” khác. OC laptop ???
Crazy enough. Không phải mẫu CPU nào cũng OC được, AMD chỉ cho phép thực hiện điều này trên các model Extreme, tức X series. Tôi không chắc việc OC có thể thực hiện trong BIOS hay không, nhưng cách thức thực hiện thông qua phần mềm sẽ tương tự tính năng Auto-tune trên Catalys Control Center. Chương trình sẽ tự dò tìm mức xung thích hợp dành cho con chip chính. Và tôi nghĩ là chỉ có 1 số ít NSX dám ứng dụng tính năng này, trước hết họ cần tạo ra 1 chiếc khung di động có khả năng tản nhiệt đủ nhanh.
Danube (AMD) sẽ thành công ?
AMD còn kèm theo 1 số kết quả benchmark cho thấy nền tảng mới của họ trội hơn Calpella của đối thủ ~ 10% về hiệu năng. Bạn có thể tự xem thêm. Dù sao, chúng tôi cần có những model cụ thể để đánh giá hơn là nhìn vào các slide PR.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Bản thân những con chip của AMD, trước giờ vẫn không được xem là hiệu quả về mặt tiết kiệm pin so với Intel. Và đây mới là yếu tố chính quyết định Danube có thành công hay không. Các sản phẩm 32nm của AMD vẫn chưa xuất hiện trên thị trường, nhưng các model 45nm thế hệ sau trên desktop cho thấy cải thiện đáng kể về mặt tiêu thụ điện. Nếu mọi thứ logic, những con chip di động của AMD có thể cũng xảy ra điều tương tự. Nếu được như thế, AMD sẽ có được cái nhìn tích cực hơn của thị trường về nền tảng di động của họ.
Lại nói về thời lượng pin, đây vẫn là 1 yếu tố mập mờ trong đánh giá mẫu laptop nào tiết kiệm tốt hơn mẫu nào. Chúng ta vẫn thường nghe “con này dùng được mấy tiếng ?” rồi câu trả lời thì rất mông lung từ 2h đến 2h30 hay 3h. Có thể bạn không thấy khác biệt về 30′ là nhiều nhưng đem đặt lên bàn tính câu chuyện sẽ khác, 2h30 hẳn nhiên nhiều hơn 2h đến 25% và 3h là gấp 1,5 lần con số trước. Nên vấn đề ở đây (theo AMD) là cần có 1 thước đo về thời lượng pin “đúng đắn” hơn.
Cụ thể khi mua điện thoại di động, chúng ta thường nghe mẫu mã này có thời gian đàm thoại kéo dài bao lâu và thời gian chờ là bao lâu. Hay tương tự chiếc xe này đi trong thành phố được bao nhiêu kilomet cho 1 lít xăng và ngoại ô là bao nhiêu. AMD muốn điều tương tự đối với laptop. Bản thân tôi đồng ý với quan điểm này.
Và sau cùng, 1 yếu tố quan trọng không kém nhưng xét từ góc độ NSX, AMD có khả năng cung ứng cho thị trường bao nhiêu mẫu chip ? Bao nhiêu trong số đó sẽ trở thành những sản phẩm cạnh tranh đúng nghĩa với Intel (đặt tình huống vấn đề hiệu năng – thời lượng pin đã được giải quyết). Câu trả lời này xin dành cho bộ phận marketing của AMD với các đối tác, cũng như mối “thâm tình” giữa AMD và Global Foundries cùng TSMC. Câu chuyện hụt sản lượng chip hẳn vẫn là bài học khó quên với hãng này.

























